Hơn 30 năm qua, nhất là trong hơn 10 năm gần đây, cả nước liên tiếp xảy ra những đợt bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, ngập úng, lũ quét, rét đậm, rét hại, nắng nóng, hạn hán, v.v. gây thiệt hại nặng nề đến con người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế, xã hội của cả nước.

Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên (lũ lụt, bão, phung trào núi lửa, động đất hay sạt lở đất) có thể ảnh hưởng tới môi trường, và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người. Thiệt hại do thảm hoạ tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm hoạ. Sự hiểu biết này được tập trung trong công thức: "thảm hoạ xảy ra khi rủi ro xuất hiện cùng sự dễ bị tổn thương". Một rủi ro thiên nhiên vì thế không thể dẫn tới thảm hoạ tự nhiên tại các khu vực không dễ bị tổn thương, ví dụ những trận động đất lớn tại các khu vực không có người ở.

Hơn 30 năm qua, nhất là trong hơn 10 năm gần đây, cả nước liên tiếp xảy ra những đợt bão mạnh, mưa lớn, lũ lụt, ngập úng, lũ quét, rét đậm, rét hại, nắng nóng, hạn hán, v.v. gây thiệt hại nặng nề đến con người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế, xã hội của cả nước

1. Các loại hình thiên tai theo vùng

Do vị trí địa lý và điều kiện địa hình, địa mạo của Việt Nam, đã tạo nên những đặc điểm khí hậu riêng biệt, dẫn tới sự hình thành nhiều loại hình thiên tai khác nhau theo mùa và đặc điểm riêng của từng vùng. Trên cả nước, thiên tai được phân theo các vùng như sau:

Vùng Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: ATNĐ, bão, lũ, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, rét hại

Vùng duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ và Hải đảo: ATNĐ, Bão, nước dâng, lũ, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển         

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:ATNĐ, bão, lũ,triều cường, nước dâng do bão, hạn hán, xâm nhập mặn.     

Vùng miền núi và Tây Nguyên:Lũ quét, sạt lở đất, hạn hán

2. Đặc điểm, tác động của các loại hình thiên tai đối với con người, đời sống sản xuất và môi trường

2.1 Áp thấp nhiệt đới, bão

Áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 và có thể có gió giật; Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. 

Đây là một trong những loại hình thiên tai chủ yếu và nguy hiểm ở Việt Nam. Trong vòng hơn 50 năm (1956-2015) đã có hơn 450 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó 31% đổ bộ vào Bắc Bộ, 36% đổ bộ vào Bắc và Trung Trung Bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Bão, áp thấp nhiệt đới thường gây ra gió mạnh, sóng lớn trên biển kèm theo hiện tượng nước biển dâng có thể gây ngập lụt nghiêm trọng vùng ven biển. Ngoài ra bão, áp thấp nhiệt đới còn gây mưa lớn kèm theo lũ và sạt lở đất sau bão.     

Bão, áp thấp nhiệt đới có thể gây ra những tác hại như sau:

- Thiệt hại về người như chết, mất tích, bị thương. Các mảnh vỡ bị thổi bay trong bão, nhà bị sập đổ hoặc bị nước lũ cuốn trôi có thể gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng con người. Rủi ro về tính mạng con người cũng có thể xảy ra do thiếu lương thực, thực phẩm hoặc không được tiếp tế kịp thời.

- Thiệt hại cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng (trường học, bệnh viện, trạm y tế, giao thông, thủy lợi v.v.) bị hư hỏng, hoặc bị phá hủy do gió bão; tàu thuyền có thể bị lật hoặc hư hại; gió bão có thể làm sập, tốc mái nhà; gãy, đổ cột, đường dây điện, dây thông tin liên lạc, gây gián đoạn thông tin và mất điện. Giao thông có thể bị gián đoạn, thị trấn hoặc vùng dân cư có thể bị cô lập;

- Thiệt hại về nông nghiệp, thủy sản: gió mạnh trong bão và mưa có thể làm hoa màu, cây cối bị hư hại, lương thực, thực phẩm đã thu hoạch hoặc dự trữ bị hư hỏng;gia súc, gia cầm, thủy hải sản bị thiệt hại.

- Thiệt hại về môi trường: cây xanh bị đổ, gãy, ô nhiễm nguồn nước và phát sinh dịch bệnh sau mưa bão.

- Mưa bão còn có khả năng gây lũ lụt, nước dâng và sạt lở đất.

2.2.  Lũ

Lũ là hiện tượng mực nước sông dâng cao trong khoảng thời gian nhất định, tùy thuộc vào lưu hướng lũ và khả năng tiêu thoát của dòng lũ. Đây là loại hình thiên tai chủ yếu và thường xuyên ở Viêt Nam, gây hậu quả rất nặng nề. Lũ hình thành do mưa có cường độ lớn trong thời gian ngắn hoặc do sự kết hợp với các hình thái thời tiết theo mùa. Lũ có 2 loại:

Lũ sông: xảy ra trên các sông khi mực nước dâng cao do mưa lớn ở đầu nguồn gây ra hoặc xả lũ, sự cố hồ chứa đầu nguồn hoặc do ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng.

Lũ ven biển: xảy ra khi bão hoặc ATNĐ kết hợp với triều cường làm mực nước biển và cửa sông dâng cao gây lũ, ngập lụt khu vực trũng thấp cửa sông ven biển.

Lũ có thể gây ra những tác hại như sau:

- Thiệt hại về người như chết, mất tích do đuối nước hoặc bị cuốn trôi, bị thương.

- Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: nhà cửa, trường học, bệnh viện, trạm y tế, giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc và các hạ tầng khác có thể bị lũ cuốn trôi hoặc sập, đổ, hư hỏng do bị ngâm nước hoặc bị va đập bởi các vật trôi nổi trong dòng lũ va đập vào. Có thể xảy ra hiện tượng sạt lở đất và ngập úng dài ngày ở các khu vực trũng, ven sông suối.

- Thiệt hại về nông nghiệp, thủy sản: lũ làm hoa màu, cây trồng bị hư hỏng khi bị ngập trong nước; lương thực, thực phẩm đã thu hoạch hoặc dự trữ bị ướt, hư hỏng; vật nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản bị chết, cuốn trôi v.v..

- Thiệt hại về môi trường: lũ có thể gây ô nhiễm nguồn nước, nước sinh hoạt hoặc làm nhiễm mặn các giếng khơi và tầng chứa nước. Ngoài ra, lũ còn làm cho môi trường bị ô nhiễm khi hệ thống nước thải theo dòng nước lũ đi vào vùng dân cư hoặc tăng mức độ lây nhiễm dịch bệnh như truyền nhiễm, tiêu chảy, sốt xuất huyết v.v..

2.3 Ngập lụt

Ngập lụt là hiện tượng mặt đất bị ngập nước do ảnh hưởng của mưa lớn, lũ, triều cường, nước biển dâng. Ngập lụt làm ngập, hư hỏng cơ sở hạ tầng (nhà cửa, bệnh viện, trường học, các công trình giao thông, thủy lợi v.v.), cây cối, đồng ruộng, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống, sản xuất và sinh hoạt của người dân.  

Các vùng trũng thấp, khu vực thoát nước kém thường bị ngập lụt kéo dài và gây cô lập, chia cắt khi hệ thống giao thông bị ngập trong nước không đi lại được.

Ngập lụt thường gây tác hại:

- Thiệt hại về người: chết, mất tích do đuối nước hoặc bị thương.

- Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: nhà cửa, trường học, bệnh viện, trạm y tế, công trình giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc và các hạ tầng khác có thể bị cuốn trôi, sập, đổ hoặc bị hư hỏng do bị ngâm nước.

- Thiệt hại về nông nghiệp, thủy sản: Ngập lụt làm hoa màu, cây trồng bị chết, giảm năng suất khi bị ngập trong nước; lương thực, thực phẩm đã thu hoạch hoặc dự trữ bị ướt, hư hỏng; vật nuôi, gia súc, gia cầm, thủy hải sản bị chết, bị cuốn trôi v.v..

- Thiệt hại về môi trường: Ngập lụt có thể gây ô nhiễm nguồn nước, môi trường dẫn đến xuất hiện nhiều dịch bệnh như tiêu chảy, sốt xuất huyết, truyền nhiễm do virus.

- Ngập lụt ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của con người. 

2.4 Lũ quét

Lũ quét là lũ xảy ra bất ngờ trên các lưu vực sông suối miền núi, nơi có độ dốc lớn, dòng chảy xiết, thường kèm theo đất, đá, cây cối. Lũ lên nhanh, xuống nhanh, có sức tàn phá lớn. Lũ quét thường xảy ra ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền núi các tỉnh Trung Bộ và Tây Nguyên. Đặc điểm nguy hiểm của lũ quét là tính bất ngờ cả về thời gian, cường độ, quy mô và vị trí xuất hiện. Khi xảy ra lũ quét thường kèm theo sạt lở đất, đá. Lũ quét là một trong những loại hình thiên tai rất khó dự báo. 

Lũ quét có thể gây ra những tác hại như sau:

- Thiệt hại về người: chết, mất tích hoặc bị thương do bị cuốn trôi, bị vùi lấp

- Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: nhà cửa, trường học, bệnh viện, trạm y tế, công trình giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc và các hạ tầng khác có thể bị cuốn trôi hoặc hư hỏng. Lũ quét thường gây chia cắt, cô lập vùng bị ảnh hưởng; hệ thống giao thông, thông tin bị chia cắt, gián đoạn. 

- Thiệt hại về nông nghiệp, thủy sản: Hoa màu, cây trồng, lương thực, thực phẩm đã thu hoạch hoặc dự trữ bị cuốn trôi, hư hỏng; vật nuôi, gia súc, gia cầm, thủy hải sản bị chết, cuốn trôi v.v..

- Thiệt hại về môi trường: Lũ quét có thể gây ô nhiễm môi trường, xuất hiện các dịch bệnh như tiêu chảy, sốt xuất huyết, truyền nhiễm do virus v.v..

Ngoài ra, lũ quét xảy ra ở những khu vực vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất nghèo nàn, thì thiệt hại do lũ quét gây ra càng trở nên nghiêm trọng, có những trận lũ quét cuốn trôi cả bản, có trường hợp cả gia đình bị lũ quét cuốn trôi.

 2.5. Sạt lở đất

 Sạt lở đất là hiện tượng đất bị sạt, trượt, lở đất do tác động của mưa, lũ hoặc dòng chảy. Sạt lở đất xảy ra phổ biến trên phạm vi cả nước, đã gây tổn thất lớn đến tính mạng, tài sản, cơ sở hạ tầng của nhà nước và nhân dân.

 Sạt lở đất thường gây ra những tác hại sau:

 - Thiệt hại về người: chết, mất tích hoặc bị thương bị do bị chôn vùi bởi bùn, đất, đá hoặc dưới những căn nhà bị sập.

 - Thiệt hại về cơ sở hạ tầng: nhà cửa, trường học, bệnh viện, trạm y tế, công trình giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc và các hạ tầng khác có thể bị phá hủy hoặc hư hỏng do bị vùi lấp. Sạt lở đất có thể gây chia cắt, cô lập, hệ thống thông tin liên lạc bị gián đoạn. 

 - Thiệt hại về nông nghiệp, thủy sản: Hoa màu, cây trồng, lương thực, thực phẩm đã thu hoạch hoặc dự trữ bị hư hỏng, vùi lấp; vật nuôi, gia súc, gia cầm, thủy hải sản bị chết, vùi lấp v.v..

 - Thiệt hại về môi trường: Sạt lở đất có thể gây ô nhiễm môi trường, xuất hiện các dịch bệnh như tiêu chảy, dịch bệnh truyền nhiễm v.v..

- Các tác động gián tiếp có thể bao gồm thiệt hại về năng suất nông nghiệp, mất đất và gây ra lũ lụt.

 2.6. Hạn hán

 Hạn hán là hiện tượng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra trên diện rộng trong thời gian dài do không có mưa và cạn kiện nguồn nước. Hạn hán xảy ra dẫn đến tình trạng thiếu nước, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và các hoạt động sản xuất của người dân đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp và chăn nuôi.

Trong những năm gần đây, hạn hán liên tiếp xảy ra ở nhiều vùng trong cả nước và ngày càng nghiêm trọng. Đây là một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Hạn hán là hậu quả trực tiếp của biến đổi khí hậu nhưng cũng còn một nguyên nhân quan trọng khác là hoạt động của con người tác động đến thiên nhiên, tàn phá rừng, mở rộng canh tác tràn lan, xây dựng hồ đập không có quy hoạch hợp lý đã dẫn đến suy giảm nguồn nước trong khi nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất và sinh hoạt, phát triển kinh tế không ngừng tăng lên.

Hạn hán có thể gây ra những tác hại sau:

- Thiệt hại về nông nghiệp, thủy sản: giảm năng suất, sản lượng của các mùa vụ, cây công nghiệp, lương thực, thực phẩm và thủy hải sản; hạn hán có thể ảnh hưởng đến các vật nuôi, gia súc, gia cầm do thiếu nước cho chăn nuôi (bị chết hoặc giảm năng suất).

- Thiệt hại về kinh tế: Hạn hán làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và có tác động lớn đến nền kinh tế của nơi xảy ra thiên tai.

- Thiệt hại về môi trường: Hạn hán làm thiếu nguồn nước sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi cũng như mất vệ sinh, an toàn thực phẩm dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh như tiêu chảy, virus v.v..

- Thiệt hại gián tiếp: hạn hán xảy ra làm cho lưu lượng nước trong sông, nước ngầm bị suy kiệt dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn, nhiễm mặn ở khu vực cửa sông, ven biển.

Năm 1900 tại Ấn Độ đã từng ghi nhận cơn hạn hán làm thiệt mạng đến 250.000 tới 3,25 triệu người do nắng nóng và thiếu lương thực.

Năm 1921-1922 tại Liên Xô cũng từng ghi nhận trận hạn hán với khoảng 5 triệu người đã chết vì đói khát khi không thể trồng trọt hay chăn nuôi

2.7 Rét hại

Rét hại là dạng thời tiết đặc biệt xảy ra trong mùa đông ở miền Bắc khi nhiệt độ không khí trung bình ngày xuống dưới 13 độ C.

Rét hại là loại hình thiên tai ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người, cây trồng, vật nuôi đặc biệt khi xuất hiện băng tuyết.

Rét hại có thể gây ra những tác hại sau:

- Thiệt hại về nông nghiệp: giảm sản lượng mùa vụ, ảnh hưởng đến vật nuôi, gia súc, gia cầm v.v.. Khi nhiệt độ xuống quá thấp hoặc xảy ra băng, tuyết có thể làm cho cây trồng, vật nuôi, gia súc, gia cầm v.v. bị chết

- Thiệt hại về môi trường: rét hại xảy ra làm vật nuôi, cây trồng bị chết gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường sống, dẫn đến việc phát sinh dịch bệnh.

- Rét hại có thể ảnh hưởng đến điều kiện sống và sinh hoạt của người dân như giao thông tê liệt, hoạt động sinh hoạt, sản xuất và chăn nuôi của người dân bị gián đoạn.

2.8.Động đất

Động đất có thể bắt nguồn từ sự dịch chuyển bất thần từ vỏ Trái Đất. Những chuyển động xảy ra có thể khác biệt về tầm mức. Nguồn phát ra những chấn động phía sâu dưới mặt đất được coi là “chấn tiêu”. Đây là điểm nằm ở chính trên phía tiêu điểm của bề mặt Trái Đất được gọi là “tâm chấn”. Những trận động đất tự chúng rất ít khi gây ảnh hưởng hay thiệt tới tài sản hay tình mạng con người. Thường những tác động thứ cấp do chính chúng gây ra, như sụp đổ nhà cửa, sóng thần, hỏa hoạn và núi lửa phun trào, mới là thảm hoạ gây ảnh hưởng nặng nề tới con người. Bởi những sự kiện nêu ra ở trên hoàn toàn có thể đề phòng bằng cách thiết kế các công trình tốt hơn, áp dụng những hệ thống cảnh báo an toàn sớm và có kế hoạch di dời.

3. Giải pháp phòng chống thiên tai.

Để phòng chống thiên tai và giảm nhẹ hậu quả do thiên tai gây ra chúng ta cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Chúng ta không thể loại trừ thiên tai mà chỉ có khả năng hạn chế và tìm các biện pháp thích ứng để giảm nhẹ thiệt hại. Qua đó, lợi dụng, né tránh, tiến tới khắc phục và từng bước chinh phục thiên tai nhằm bảo vệ và phát triển sản xuất, đời sống. 

Thứ nhất, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho mọi người, mọi nhà, mọi địa phương nhận thức sâu sắc tác hại của thiên tai, nhận diện một cách đầy đủ các loại hình thiên tai và những diễn biến của nó để chủ động phòng, chống một cách có hiệu quả, với phương châm “Phòng, tránh là chính, tự cứu mình là chính”. 

Thứ hai, thực hiện phương châm “4 tại chỗ” (lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ, vật tư tại chỗ) một cách chủ động, thực chất và có hiệu quả.       

Thứ ba, coi trọng đúng mức và làm tốt công tác dự báo, dự tính, chỉ huy điều hành của các cấp, các ngành. 

Thứ tư, quy hoạch và xây dựng các công trình để vừa cấp nước cho các nhu cầu KT-XH, vừa điều tiết nước lũ về mùa mưa; củng cố các tuyến đê sông, suối, ao, hồ thủy lợi... Xây dựng các trạm bơm tưới tiêu, các công trình phân lũ... 

Thứ năm, bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng. 

Thứ sáu, khi có thiên tai xảy ra, cần huy động tổng hợp các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên nghiệp, lực lượng vũ trang, thanh niên tình nguyện và nhân dân trên địa bàn thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ; phải chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện và các yếu tố đảm bảo. Sau thiên tai, cần đánh giá chính xác thiệt hại, huy động nội lực với tinh thần “lá lành đùm lá rách” và coi trọng sự cứu trợ, giúp đỡ từ bên ngoài. Tổ chức tốt việc tiếp nhận, quản lý, phân phối nguồn cứu trợ đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng, công khai, dân chủ.

Thứ bảy, thu hút đầu tư nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một tỉnh nông nghiệp sang một tỉnh có công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển; xem đây là giải pháp căn cơ nhất để phòng, tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển một cách bền vững. 

Thứ tám, Quan tâm đầu tư cho các đơn vị cơ sở xã, phường nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng có nguy cơ cao về phương tiện cứu hộ, cứu nạn, dự trữ các nhu cầu thiết yếu lương thực, thực phẩm, thuốc men,... để phục vụ ứng cứu và khắc phục kịp thời hậu quả của thiên tai.

Cần có quy định để các ngành, các cấp, các địa phương khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH cần lấy quy hoạch phòng, chống bão, lũ làm một tiêu chí quan trọng để chọn phương án phù hợp.

Tiếp tục qua tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là các công trình phòng, chống thiên tai như kiên cố hóa hồ đập,... đồng thời tăng cường công tác dự báo, dự tính; cung cấp thông tin dự báo đầy đủ và tin cậy hơn.

UBND xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang


Tin liên quan